Tranh chấp tài sản là một việc thường thấy của khá nhiều cặp vợ chồng sau ly hôn. Trong một vụ ly hôn, việc phân chia tài sản thường được tách thành một vụ án độc lập cho Tòa giải quyết vì hai bên không thể tự thỏa thuận với nhau được.

Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản khi ly hôn.

Trường hợp hai bên đã thỏa thuận thành công.

Nếu có văn bản thỏa thuận thành công về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này được Tòa án công nhận có hiệu lực thì áp dụng các nội dung của văn bản đã thỏa thuận để chia tài sản khi ly hôn của hai vợ chồng.

Đối với những vấn đề thỏa thuận không rõ ràng hoặc hai bên không thỏa thuận hoặc bị vô hiệu thì tiến hành áp dụng theo các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình để phân chia tài sản khi ly hôn.

Trường hợp hai bên không thể thỏa thuận thành công.

chia-tai-san-khi-ly-hon2

Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản khi ly hôn.

Đối với tài sản chung của hai vợ chồng sau ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba kia mà họ yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải xem xét và tiến hành giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng.

Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

Trong trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản khi ly hôn thì khối tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thì sẽ được chia đôi nhưng phải xét tới các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

1. “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng dựa trên các năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản lớn hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

2. “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc xây dựng, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

3.  “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc phân chia khối tài sản chung của hai bên sao cho hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra thu nhập được thực hiện bình thường và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Theo ví dụ nếu trong Thông tư : Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi ly hôn, với việc giải quyết khối tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh để tạo thu nhập trang trải cuộc sống. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

4. “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ, trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét lỗi của người chồng để khi phân chia tài sản sao cho đảm bảo lợi ích cho người vợ và con chưa thành niên

Theo quy định của thông tư này, giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ, khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 1/3/2016. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư liên tịch 01 có hiệu lực thì không áp dụng hướng dẫn tại thông tư này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Hy vọng những thông tin trên hũu ích với bạn. Để được tư vấn tốt nhất về phân chia quyền sở hữu tài sản sau ly hôn bạn có thể đến các hãng luật uy tín hoặc gọi số 19006568 để được tư vấn miễn phí!

Chúc bạn thành công!

> Xem thêm :

Có thể bạn quan tâm: Đàn ông ăn gì để sinh con trai

Kiểu tóc cho người da ngăm đen

Phân chia quyền sở hữu tài sản sau ly hôn
5 1 vote